Nghiên cứu thiết kế tỉ lệ xi măng hợp lý để gia cố đất sét pha làm kết cấu áo đường giao thông nông thôn tại tỉnh Kon Tum
Thực tế cho thấy, nguồn vật liệu đá, cát ngày càng khan hiếm, cho nên giá thành rất đắt; do đó, việc nghiên cứu sử dụng vật liệu đất gia cố để xây dựng đường ở tỉnh Kon Tum là phương án nhằm giảm chi phí xây dựng công trình, đem lại hiệu quả kinh tế cao...
Địa chất ở khu vực Tây Nguyên, chủ yếu là đất đỏ bazan mà thành phần chính là sét pha, khi mùa nắng thì rất cứng, dễ tạo thành đất bột trên bề mặt do xe cộ, các phương tiện thi công di chuyển tạo ra; về mùa mưa thì đất ngậm nước trở nên dẻo, bề mặt trơn trượt,, tính lún lớn... cho nên rất khó để thi công lu lèn đạt độ chặt yêu cầu. Bài báo trình bày kết quả các thí nghiệm về tính chất cơ lý của sét pha và thí nghiệm nén mẫu xi măng - đất làm căn cứ lựa chọn tỉ lệ tối ưu đất - xi măng để gia cố cho nền đường sét pha ở khu vực tỉnh Kon Tum. Hỗn hợp này sẽ làm tăng cường độ và độ ổn định cho kết cấu áo đường giao thông nông thôn trong cả quá trình thi công và khai thác, bên cạnh đó đảm bảo giá thành phù hợp.
1.Đặt vấn đề
Các phương pháp gia cố đất đã được nghiên cứu, áp dụng tại nhiều nước trên thế giới mang lại hiệu quả tốt về mặt kinh tế - kỹ thuật. Việc gia cố đất để sử dụng làm các lớp móng và các lớp mặt đường trong xây dựng đường ô tô là phương pháp có giá thành thấp, sử dụng vật liệu tại chỗ, tiết kiệm trong việc khai thác các tài nguyên như đá, cát ngày càng khan hiếm.
Đây là vấn đề không mới, đã được thực hiện tại nhiều địa phương, tuy nhiên với những vùng miền có đặc trưng địa chất khác nhau sẽ dẫn đến tỉ lệ phối trộn các chất vô cơ khác nhau, hoặc có nơi chỉ phù hợp hoặc với vôi hoặc có nơi chỉ phù hợp với xi măng với xi măng [5].
Địa chất khu vực tỉnh Kon Tum với đa phần là đất sét pha với các tính chất đặc thù như dễ vỡ nát thành bụi khi khô, dễ biến dạng, dẻo, trơn khi ngậm nước. Điều này gây khó khăn rất lớn khi triển khai thi công các tuyến đường, nhất là các tuyến giao thông nông thôn với thiết kế kết cấu áo đường đơn giản, được đặt trực tiếp trên nền sét pha. Do đó với tính chất đặc thù như trên, khi triển thi công rất khó đảm bảo độ chặt lu lèn cũng như cường độ, độ ổn định cho kết cấu nền - mặt đường.
Hiện nay, hầu hết đều sử dụng cấp phối đá dăm để làm các lớp móng móng, do đó, giá thành để xây dựng đường giao thông nông thôn sẽ tăng cao. Từ quan điểm trên, nghiên cứu đã thực hiện các thí nghiệm đối với đất nền sét pha của địa phương đem phối trộn với xi măng với các tỷ lệ phối trộn khác nhau để tìm ra được tỉ lệ thích hợp nhất, có nghĩa vừa đảm bảo cường độ vừa phù hợp về giá thành. Hỗn hợp đất - xi măng này có thể sẽ thay thế được lớp móng cấp phối đá dăm ngay dưới mặt đường và hơn nữa hướng đến sử dụng làm kết cấu mặt đối với các tuyến giao thông nông thôn chưa đủ kinh phí để xây dựng mặt đường.
Tổng hợp các kết quả nghiên cứu của các cơ quan đã công bố cho thấy các nhận xét nêu ra về cơ bản như sau:
- Không có tỷ lệ xi măng tốt nhất cho hỗn hợp đất gia cố, cường độ (nén và kéo uốn) cũng như trị số mô-đun biến dạng hoặc đàn hồi của đất gia cố xi măng hầu như tăng tỷ lệ thuận với lượng xi măng cho vào đất.
- Khi gia cố đất bằng xi măng thì đối với đất á sét sẽ cho cường độ cao hơn đất sét. Hiệu quả gia cố tốt nhất là đối với đất á cát, á sét có chỉ số dẻo Ip khoảng 12 ^ 13 có thành phần hạt gần với cấp phối tốt nhất.
- Cường độ của đất gia cố xi măng cũng tăng theo thời gian, tốc độ tăng nhanh ở giai đoạn đầu, nhưng sau lại chậm đi.
Kết quả nghiên cứu của Bộ môn Đường - Trường Đại học Xây dựng với 02 loại đất sét vùng Hà Bắc (nay thuộc Bắc Ninh) gia cố bằng xi măng pooclăng mac 400 cho kết quả cường độ chịu kéo - uốn như hình 1.
Năm 2007, Tiến sỹ Lê Văn Bách - Đại học Giao thông Vận tải, Cơ sở 2 đã công bố kết quả đề tài “Nghiên cứu và đề xuất kết cấu áo đường hợp lý cho tỉnh Tiền Giang” [4]; trong đó giới thiệu kết quả thí nghiệm gia cố đất sét pha bằng xi măng Hà Tiên PC40 để làm lớp móng cho các loại kết cấu áo đường. Hàm lượng xi măng được chọn là 4, 6, 8, 10% khối lượng đất khô. Kết quả thí nghiệm cường độ chịu nén ở 7 ngày tuổi như sau:
Bảng 1. Cường độ chịu nén ở 7 ngày tuổi [4]
|
Hàm lượng gia cố xi măng |
Rn,7 (kg/cm2) |
Ỵk,tn (g/cm3) |
|
7,00 |
1,81 |
|
|
4% |
8,28 |
1,81 |
|
7,39 |
1,80 |
|
|
12,73 |
1,82 |
|
|
6% |
11,76 |
1,82 |
|
11,21 |
1,83 |
|
|
19,49 |
1,83 |
|
|
8% |
18,47 |
1,83 |
|
17,83 |
1,82 |
|
|
10% |
24,33 22,54 |
1,83 1,82 |
Kết quả nghiên cứu thử nghiệm trên đã chỉ ra việc sử dụng đất sét pha gia cố xi măng làm lớp móng chịu lực thay cho cấp phối sỏi đỏ và cấp phối đá dăm rất đắt tiền ở tỉnh Tiền Giang là hợp lý và khả năng áp dụng vào thực tiễn là rất lớn.
- Nội dung nghiên cứu
2.1. Vật liệu thí nghiệm
Vật liệu là đất sét pha được lấy từ công trường đang thi công thực tế tại xã Chư Hreng - Kon Tum. Loại sét pha này được các chuyên viên thí nghiệm là loại phổ biến trong khu vực.
Bảng 2. Thí nghiệm các chỉ tiêu trạng thái của sét pha
|
Thành phần thí nghiệm |
|
Giới hạn nhão Wnh |
|
Giới hạn dẻo Wd |
|
Chỉ số dẻo IP |
|
Độ sệt B |
Với số liệu ở bảng trên, theo phân loại đất của quy phạm Việt Nam, cho thấy đây là sét pha (7 < IP < 17) ở
trạng thái dẻo cứng (0,25 < B < 0,5).
Có thể thấy thành phần hạt của loại đất trên tương ứng với phân loại đất thích hợp với chất gia cố xi măng, theo 22TCN 81-84, có cỡ hạt từ nhỏ hơn 01 ^ 25mm và các cỡ hạt từ 2: 25mm chỉ chiếm khoảng 26% tính toán theo trọng lượng.
Kết quả thí nghiệm xác định thành phần hạt ở hình 1 cho đất sét pha thì tỷ lệ lọt sàng < 0,1mm là khoảng 12,38% và ỏ bảng 1: chỉ số dẻo IP = 13,58, ta thấy vật liệu đất sét pha ở đây là phù hợp cho việc lựa chọn để gia cố với xi măng (tham khảo đối chiếu với các tiêu chuẩn của Trung Quốc và Anh [6]).
Ngoài ra theo [6], thành phần cấp đất sét pha có thể tương ứng với phân loại đất I-B, là loại đất thích hợp để gia cố với đa số các chất liên kết.
|
STT |
Chỉ tiêu thí nghiệm |
Trị số |
|
1 |
Dung trọng khô Y max (g/cm3) |
1,519 |
|
2 |
Độ ẩm tốt nhất Wtn (%) |
24,60 |
Bảng 3. Thí nghiệm các chỉ tiêu của xi măng PCB 40
|
TT |
Chỉ tiêu thí nghiệm |
Tiêu chuẩn thí nghiệm |
Đơn vị tính |
Kết quả |
Yêu cầu |
|
1 |
Khối lượng riêng XM |
TCVN4030- 2003 |
g/cm3 |
3,1 |
|
|
2 |
Khối lượng thể tích xốp |
TCVN4030- 2003 |
g/cm3 |
1,081 |
|
|
3 |
Độ mịn của bột XM trên sàng 0,09mm |
TCVN4030- 2003 |
% |
6,24 |
<12 |
|
4 |
Thời gian đông kết |
TCVN6017- 2015 |
|||
|
+ Bắt đầu |
phút |
134 |
>120 |
||
|
+ Kết thúc |
giờ,phút |
7h62’ |
<10h |
||
|
5 |
Độ dẻo tiêu chuẩn N/X |
TCVN6017- 2015 |
% |
30,5 |
|
|
6 |
Cường độ chịu nén sau 3 ngày |
TCVN6016- 2011 |
N/mm2 |
20,82 |
>18 |
Thông thường nên chọn loại xi măng có thời gian ninh kết dài để tiện cho thi công. Không nên sử dụng xi măng ninh kết nhanh (thời gian bắt đầu ninh kết tối thiểu phải là 120 phút). Bên cạnh việc đảm bảo các thông số theo các chỉ tiêu thí nghiệm tại bảng 3, nói chung xi măng có mác từ 300 trở lên đều phù hợp để sử dụng.
2.2. Thiết kế mẫu thí nghiệm
Chế bị mẫu: Sử dụng cối Proctor (phương pháp I-A) để chế bị mẫu. Mẫu có kích thước trụ tròn đường kính D= 10,11cm, chiều cao H=11,60cm.
Thí nghiệm trên 04 thành phần lần lượt: đất gia cố 4% xi măng(theo trọng lượng của đất khô), đất gia cố 6% xi măng, đất gia cố 8% xi măng và đất gia cố 10% xi măng.
Đối với mỗi thành phần trên được chế tạo thành các tổ mẫu (gồm 03 mẫu) hình trụ theo phương pháp đầm Proctor để xác định cường độ nén tại các tuổi 3, 7, 14, 28 ngày. Như vậy, tổng cộng nghiên cứu thực hiện trên 48 mẫu đất gia cố xi măng.
Khi nén (có nở hông) xác định cường độ nén kết hợp đo biến dạng lún của mẫu bằng thiên phân kế nhằm xác định mô-đun đàn hồi của mẫu.
2.3. Phương pháp tiến hành
Bước 2: Xác định thành phần hạt của loại sét pha trên - Hình 1;
Bước 2: Xác định độ ẩm tốt nhất và dung trọng tự nhiên lớn nhất của đất tự nhiên chưa gia cố bằng thí nghiệm Proctor theo tiêu chuẩn 22TCN 333-06 phương pháp I-A - Hình 3.
Bước 3: Chọn tỷ lệ thành phần xi măng để gia cố: tác giả đề nghị chọn tỷ lệ xi măng là 4%, 6%, 8%, 10% theo khối lượng đất; ký hiệu 04 loại đất gia cố xi măng này là: Đ4X, Đ6X, Đ8X, Đ10X;
Bước 4: Từ cơ sở thành phần hạt, ta chọn phương pháp thí nghiệm Proctor phù hợp theo tiêu chuẩn 22TCN 333-06, ở đây chọn phương pháp II-A, để xác định độ ẩm tốt nhất và dung trọng khô lớn nhất của 04 loại đất gia cố trên;
Bảng 4. Dung trọng khô lớn nhất và độ ẩm tốt nhất của đất gia cố
|
TT |
Loại đất gia cố |
Y max (g/cm3) |
Wtn (%) |
|
1 |
Đ4X |
1,69 |
22,25 |
|
2 |
Đ6X |
1,71 |
21,86 |
|
3 |
Đ8X |
1,76 |
21,40 |
|
4 |
Đ10X |
1,74 |
21,07 |
Bước 5: Chế bị mẫu: Dựa vào Y max và Wln của hỗn hợp đất gia cố ta chế bị độ ẩm tốt nhất cho đất sét pha tự nhiên để phục vụ công tác trộn hỗn hợp theo các tỷ lệ như trên và chế bị mẫu như hình 4:
+ Độ ẩm của xi măng có thể coi như bằng 0, do đó chỉ cần khống chế độ ẩm của đất tự nhiên đem trộn bằng độ ẩm tốt nhất đã xác định theo bước 4 cộng thêm 2% của từng loại hỗn hợp.
Bước 6: Bảo quản mẫu trong túi nilon để giữ ẩm, cách ly với không khí và giữ mẫu thí nghiệm theo ngày tuổi quy định .
Bước 7: Nén mẫu theo các độ tuổi 3, 7, 14, 28 ngày để xác định cường độ chịu nén của mẫu sau khi đã ngâm bão hòa (>20 giờ).
Hình 6: Nén mẫu có đặt đồng hồ đo biến dạng
2.4. Kết quả thí nghiệm
Đem mẫu nén với máy nén TYA - 2000 do Trung Quốc sản xuất, với lực nén Fmax = 50kN, tốc độ gia tải 0,05 - 0,08 kN/s.
4P
Rn =-4P- (MPa) (1)
nD
Trong đó: P, D được xác định như trong công thức (2)
* Xác định mô đun đàn hồi: theo phần C3 - Phụ lục C - tài liệu [3]
4P
Eđh = 377 (MPa) (2)
nD L
Trong đó:
+ P: Lực tác dụng lên bàn ép - kN;
+ D: Đường kính của mẫu hình trụ, D = 10,11cm;
+ H: Chiều cao của mẫu hình trụ, H = 11,60cm;
+ L: Biến dạng đàn hồi đo được bằng thiên phân kế khi nén;
T V
L = (cm) , với V: là số vạch đọc được trên thiên 1000
phân kế.
Kết quả nén nhận được khi tiến hành trên các tổ mẫu (gồm 03 mẫu) thí nghiệm với 04 loại tương ứng là Đ4X, Đ6X, Đ8X, Đ10X theo các độ tuổi 3, 7, 14, 28 ngày như sau:
|
Thời gian (ngày) |
Cường độ chịu nén của đất gia cố xi măng (MPa) |
|||||||
|
Đất+4%XM |
Đất+6%XM |
Đất+8%XM |
Đất+10%XM |
|||||
|
Rni |
Rntb |
Rni |
Rntb |
Rni |
Rntb |
Rni |
Rntb |
|
|
3 |
0,612 |
0,667 |
0,861 |
0,863 |
0,950 |
0,997 |
1,205 |
1,210 |
|
0,638 |
0,842 |
1,048 |
1,244 |
|||||
|
0,749 |
0,893 |
0,988 |
1,186 |
|||||
|
7 |
0,755 |
0,813 |
1,420 |
1,403 |
1,479 |
1,497 |
1,622 |
1,590 |
|
0,848 |
1,401 |
1,481 |
1,538 |
|||||
|
0,842 |
1,391 |
1,528 |
1,607 |
|||||
|
14 |
0,852 |
0,873 |
1,487 |
1,507 |
1,533 |
1,550 |
1,667 |
1,683 |
|
0,886 |
1,477 |
1,557 |
1,658 |
|||||
|
0,879 |
1,555 |
1,565 |
1,715 |
|||||
|
28 |
0,999 |
0,990 |
1,430 |
1,507 |
1,713 |
1,707 |
1,746 |
1,687 |
|
0,964 |
1,521 |
1,732 |
1,614 |
|||||
|
1,009 |
1,567 |
1,680 |
1,704 |
|||||
Kết quả trong bảng trên cho thấycường độ chịu nén của hai thành phần đất gia cố 8% xi măng và 10% xi măng tại các ngày tuổi 7, 14, và 28 xấp xỉ bằng nhau và có trị số cao hơn cả, khoảng 1,6 - 1,7 MPa khi nén ở 28 ngày tuổi. Do đó có thể lựa chọn tỷ lệ xi măng là 8% hoặc 10% để chế tạo vật liệu gia cố sử dụng cho lớp móng.
- Kết quả nghiên cứu và bình luận
- Kết quả trên bảng 5 và hình 7 chỉ ra rằng: cường độ chịu nén của 04 loại hỗn hợp trên đều tăng nhanh từ 3 đến 7 ngày tuổi, đây cũng chính là đặc điêm của bê tông xi măng (cường độ chịu nén trong 7 ngày đầu thường đạt 70% cường độ lúc 28 ngày).
- Từ 7 ngày tuổi trở đi, cường độ có tăng nhưng chậm.
- Trị số cường độ chịu nén và mô-đàn hồi tăng theo tỉ lệ xi măng gia cố và các giá trị thí nghiệm trên là phù hợp khi so sánh với trị số quy định trong 22TCN 81 - 84 [1], đối với đất sét pha gia cố 8% và 10% mô-đun đàn hồi tại 28 ngày tuổi đều xấp xỉ 320 MPa.
♦ Đất+4%XM
■ Đất +6%XM
* Đất +8%XM
X Đất +10%XM Đất + 4%XM Đất + 6%XM Đất + 8%XM Đất + 10%XM
Thời gian (ngày).
- Từ bảng 5 và hình 7 biểu thị cường độ chịu nén cho Do đó nếu chọn tỷ lệ thiết kế thì nên chọn đất gia cố thấy: cường độ chịu nén của 02 loại đất gia cố Đ8X và 8% xi măng vì cường độ xấp xỉ bằng với đất gia cố 10% Đ10X tại 28 ngày tuổi không chênh lệch nhau nhiều. xi măng, và tiết kiệm được khối lượng xi măng.
Bảng 6. Bảng tổng hợp cường độ chịu nén và mô-đun đàn hồi của đất gia cố xi măng
|
Hàm lượng XM |
3 ngày |
7 ngày |
14 ngày |
28 ngày |
||||
|
Rntb (MPa) |
Eđh (MPa) |
Rntb (MPa) |
Eđh (MPa) |
Rntb (MPa) |
Eđh (MPa) |
Rntb (MPa) |
Eđh (MPa) |
|
|
4% |
0,667 |
60 |
0,813 |
86 |
0,873 |
317 |
0,990 |
144 |
|
6% |
0,863 |
97 |
1,403 |
200 |
1,507 |
216 |
1,507 |
212 |
|
8% |
0,997 |
159 |
1,497 |
210 |
1,550 |
370 |
1,707 |
276 |
|
10% |
1,210 |
188 |
1,590 |
220 |
1,683 |
317 |
1,687 |
264 |
Với kết quả trong bảng 6, theo 22TCN 211-06 [3], vật liệu làm lớp đáy móng phải có mô đuyn đàn hồi ở độ chặt và độ ẩm thi công E>50 Mpa.
Ngoài ra, trong 22TCN 81 - 84, đất gia cố mô-đun tính toán từ 200-350 MPa có thể dùng làm móng đường cấp III, cấp IV, hoặc làm lớp mặt chịu lực của đường cấp V; Tức là với loại đất gia cố đã thí nghiệm với 8% xi măng trở lên thì có thể sử dụng tốt khi làm lớp mặt chịu lực cho đường giao thông nông thôn.
4.Kết luận
Thực tế cho thấy, nguồn vật liệu đá, cát ngày càng khan hiếm, cho nên giá thành rất đắt; do đó, việc nghiên cứu sử dụng vật liệu đất gia cố để xây dựng đường ở tỉnh Kon Tum là phương án nhằm giảm chi phí xây dựng công trình, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Nguồn đất tại chỗ của địa phương đáp ứng được các yêu cầu về kỹ thuật khi được gia cố với xi măng; Hơn nữa việc hạn chế khai thác các mỏ vật liệu đá, cát sẽ giúp bảo vệ môi trường, tránh được các tác hại do thiên nhiên gây ra khi sự khai thác trở nên bừa bãi, ồ ạt và tận dụng được vật liệu xi măng của Nhà máy xi măng địa phương sản xuất.
Kết quả về cường độ chịu nén và mô-đun đàn hồi đối với hai thành phần đất gia cố 8% và 10% xi măng đã đáp ứng các yêu cầu về chỉ tiêu kỹ thuật được quy định tại 22TCN 81 - 84 [1], và cũng phù hợp với các chỉ tiêu thiết kế quy định tại 22TCN 221 - 06 [3] (mục 5.1.1) khi được chọn làm lớp móng cho kết cấu áo đường A2.
Trị số mô-đun đàn hồi của đất gia cố 8% xi măng và 10% xi măng cố tại các ngày tuổi 3, 7, 14, và 28 cũng có sự chênh lệch không quá cao (theo bảng 6). Tại các thời điểm 14 và 28 ngày trị số mô-đun đàn hồi của hai thành phần gia cố trên có thể đạt được từ 270 - 370 MPa. Do đó tác giả đề xuất lấy tỷ lệ xi măng là 8% để chế tạo hỗn hợp gia cố phục vụ công tác thiết kế và thi công kết cấu móng - mặt đường.
- Hướng nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, tác giả đã thực hiện thiết kế các loại hỗn hợp đất gia cố với các tỷ lệ xi măng khác nhau và thí nghiệm để xác định cường độ chịu nén ở các ngày tuổi nhất định, từ đó tính toán được mô-đun đàn hồi tương ứng của chúng. Tuy nhiên để có được các chỉ dẫn kỹ thuật đầy đủ hơn nữa về đất gia cố xi măng, chúng ta cần có thêm các nghiên cứu thực nghiệm để xác định một cách đầy đủ các chỉ tiêu khác cho hai thành phần vật liệu này như:
- Cường độ chịu kéo khi uốn;
- Xác định độ ổn định đối với nước và nhiệt.
Cần tiếp tục triển khai, mở rộng nghiên cứu cho các loại đất khác của địa phương để có được danh mục các
127 loại đất phù hợp với các hàm lượng chất gia cố thích hợp làm cơ sở cho việc thiết kế, áp dụng cho các loại đường khác nhau của địa phương.
Tác giả : Phạm Kiên
Phân hiệu Đại học Đà Nẵng tại Kon Tum; Email: pkien@kontum.udn.vn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Tiêu chuẩn ngành 22 TCN 81 - 84, Quy trình sử dụng đất gia cố bằng chất kết dính vô cơ trong xây dựng đường.
[2] Tiêu chuẩn ngành 22TCN 59 - 84, Quy trình thí nghiệm đất gia cố bằng chất liên kết vôi, xi măng.
[3] Tiêu chuẩn ngành 22TCN 211 - 06: Áo đường mềm - Các yêu cầu và chỉ dẫn thiết kế.
[4] TS. Lê Văn Bách, Nghiên cứu và đề xuất kết cấu áo đường hợp lý cho tỉnh Tiền Giang, 2008.
[5] Phạm Kiên, Nghiên cứu, đề xuất một số biện pháp gia cố nền đường sét pha khu vực Tây Nguyên, Luận văn Thạc sỹ, Hà Nội, 2010.
[6] V.M.Bezruk, A.X.Elenovits, Áo đường bằng đất gia cố, Bản dịch tiếng Việt từ tiếng Nga - NXB Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội, 1981.
-
Sau khi đưa vào khai thác, tuyến đường tránh Ea H’leo (đoạn qua huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk) không chỉ góp phần giảm áp lực giao thông cho khu vực trung tâm thị trấn Ea Drăng mà còn mở ra diện mạo mới cho hạ tầng giao thông phía Bắc Tây Nguyên, nơi giao thoa giữa phát triển giao thông hiện đại, năng lượng tái tạo và định hướng tăng trưởng xanh, bền vững. -
Bảo đảm tiến độ dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, tuân thủ nghiêm ngặt quy trình kỹ thuật
Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc nhấn mạnh, dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng là công trình có quy mô rất lớn, công nghệ hiện đại, yêu cầu thực hiện phải vừa đảm bảo tiến độ, vừa tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình kỹ thuật, không được chủ quan trước các rủi ro. -
Phó Thủ tướng yêu cầu Hà Nội sớm tái định cư dự án Đại lộ sông Hồng
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc yêu cầu Hà Nội chủ động, kịp thời làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền, công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất trong quá trình triển khai Dự án đầu tư xây dựng Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng. -
Quảng Ngãi: Đèo Lò Xo “rách rồi lại vá, vá rồi lại rách”
Những năm qua, mặt đường đèo Lò Xo (Quảng Ngãi) thường xuyên nứt gãy mặt đường bê-tông khiến cho việc lưu thông của người dân và các phương tiện gặp nhiều khó khăn và tiềm ẩn nguy cơ tai nạn giao thông. -
Hà Nội: 100% bãi đỗ ô tô thu phí không dừng từ 1/7/2026
UBND TP Hà Nội vừa ban hành kế hoạch triển khai ứng dụng công nghệ trong hoạt động trông giữ xe, hướng tới mục tiêu 100% bãi đỗ và điểm trông giữ ô tô trên địa bàn áp dụng hình thức thu phí điện tử không dừng từ ngày 1/7/2026. -
Hà Nội xây 4 bãi đỗ xe kết hợp trạm sạc quy mô lớn phục vụ hạn chế xe xăng vào nội đô
UBND TP. Hà Nội đang giao các Sở, ngành liên quan khẩn trương triển khai các dự án bãi đỗ xe kết hợp trạm sạc xe điện tại những vị trí chiến lược dọc Vành đai 1 để phục vụ người dân khi thành phố thực hiện hạn chế phương tiện xe xăng vào khu vực nội đô. Với lộ trình từ nay đến 1/7/2026 có đủ điều kiện xây trước 4 bãi xe kết hợp trạm sạc có quy mô lớn. -
Hà Nội đề xuất giảm gần 120.000 tỷ đồng dự án trục đại lộ cảnh quan sông Hồng
UBND TP Hà Nội vừa có tờ trình gửi HĐND thành phố phê duyệt chủ trương đầu tư dự án trục đại lộ cảnh quan sông Hồng, với tổng mức đầu tư sơ bộ gần 737.000 tỷ đồng (giảm khoảng 118.000 tỷ đồng so với ước tính vốn đầu tư sơ bộ công bố cuối năm 2025). -
TP.HCM khởi công 10 dự án lớn, tổng mức đầu tư hơn 381.000 tỉ đồng
Trong tháng 7 này, TP. HCM sẽ khởi công 10 dự án lớn, với tổng mức đầu tư hơn 381.000 tỉ đồng. Những dự án này sẽ góp phần thay đổi diện mạo giao thông, đô thị TP. HCM. Đồng thời, đây cũng là những dự án được khởi công để chào mừng Kỷ niệm 50 năm ngày thành phố mang tên Bác.
-
Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia đưa ra khuyến nghị khi sử dụng dịch vụ thu phí không dừng
Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia vừa đưa ra một loạt khuyến nghị đối với người tiêu dùng và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thu phí không dừng, sau quá trình giám sát cho thấy vẫn tồn tại một số bất cập liên quan đến minh bạch thông tin, hợp đồng và điều kiện giao dịch. -
Bộ Xây dựng đề xuất xã hội hóa đầu tư mạng lưới trạm sạc xe ô tô điện
Đề án phát triển mạng lưới trạm sạc cho xe ô tô điện đang được Bộ Xây dựng nghiên cứu, xây dựng theo hướng tổng thể, đồng bộ và xã hội hóa. -
Đẩy nhanh tiến độ 7 cây cầu vượt sông Hồng
Tính đến đầu tháng 5/2026, Hà Nội đang triển khai đồng loạt 7 dự án cầu vượt sông Hồng, trong đó nhiều hạng mục đã đạt tiến độ thi công cao. -
Hà Nội công bố các điểm đỗ xe để thực hiện vùng phát thải thấp từ 01/7
Trong báo cáo về đề án vùng phát thải thấp, Sở NN&MT Hà Nội đã đưa ra danh mục các bãi đỗ xe hiện có sẵn sàng triển khai cho giai đoạn thí điểm từ ngày 01/7. -
Cần nhìn nhận khách quan về dự án cao tốc Đồng Đăng – Trà Lĩnh
Trong khi cao tốc Đồng Đăng – Trà Lĩnh đang bước vào giai đoạn nước rút để kịp mục tiêu thông xe giai đoạn 1 trước ngày 19/5/2026, một số thông tin dư luận thời gian qua được nhà đầu tư cho là chưa phản ánh đầy đủ bản chất kết luận thanh tra dự án, gây ảnh hưởng tới tiến độ triển khai, niềm tin xã hội và môi trường đầu tư tại địa phương. -
Sẽ thông xe toàn bộ 12 dự án thành phần cao tốc Bắc - Nam trong tháng 4
Ông Nguyễn Thế Minh, Phó cục trưởng Cục Kinh tế - Quản lý đầu tư xây dựng (Bộ Xây dựng) cho biết, sẽ thông xe toàn bộ 12 dự án cao tốc Bắc - Nam trong tháng 4. -
Trước 30/4 phải hoàn thiện quy chuẩn thiết kế trạm sạc xe điện ở chung cư
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký Công điện số 27/CĐ-TTg chỉ đạo các bộ ngành, địa phương thúc đẩy phát triển hạ tầng trạm sạc xe điện tại các khu chung cư. -
Hà Nội hướng tới đô thị đa trung tâm
Với tầm nhìn chiến lược hướng tới dấu mốc 1.100 năm Thăng Long - Hà Nội, quy hoạch tổng thể Thủ đô không chỉ mở ra không gian phát triển mới theo mô hình đa trung tâm mà còn chú trọng các giải pháp kiểm soát áp lực dân số, hạ tầng một cách bền vững. -
Nâng cấp, mở rộng tuyến đường kết nối Tây Nguyên với sân bay Long Thành
Việc nâng cấp, mở rộng tuyến đường tỉnh 773 sẽ tạo trục giao thông liên vùng, rút ngắn đáng kể thời gian di chuyển từ Đồng Nai và các tỉnh Tây Nguyên, Nam Trung Bộ đến Sân bay Long Thành. -
Đặt mục tiêu đến năm 2050 Việt Nam có 43 tuyến đường cao tốc
Theo Quy hoạch kết cấu hạ tầng đường bộ thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, hệ thống đường bộ cao tốc Việt Nam gồm 43 tuyến, tổng chiều dài khoảng 8.923km.
-
Thị trường ô tô Việt Nam: Cuộc chiến giảm giá còn tiếp diễn?
-
Xăng E10RON95-III chính thức thay thế RON95-III từ ngày 16/6
-
Bảo đảm tiến độ dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, tuân thủ nghiêm ngặt quy trình kỹ thuật
-
Chính phủ quy định điều kiện kinh doanh cảng hàng không
-
Hà Nội hỗ trợ tối đa 20 triệu đồng cho hộ nghèo chuyển đổi sang xe máy điện
