Thứ Bảy, ngày 25/07/2026 01:08 | HOTLINE : 0906.18.1357 | Email: bbt.giaothong360@gmail.com
Liên hệ quảng cáo: 0906.18.1357
Tiêu điểm

Đề xuất tăng lương hưu, trợ cấp đối với 8 nhóm đối tượng

Theo Báo Chính phủ - 08:00 04/03/2023 GMT+7

Tại dự thảo Nghị định điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đề xuất 8 nhóm đối tượng được tăng lương hưu, trợ cấp năm 2023.

Đề xuất 8 nhóm đối tượng được tăng lương hưu, trợ cấp năm 2023 - Ảnh 1.

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cho biết, về cơ bản đối tượng, phạm vi điều chỉnh của dự thảo Nghị định kế thừa quy định của Nghị định số 108/2021/NĐ-CP ngày 7/12/2021 của Chính phủ điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng

Ngoài ra, dự thảo Nghị định bổ sung, điều chỉnh một số đối tượng so với Nghị định 108/2021/NĐ-CP, cụ thể:

Điều chỉnh đối tượng là người hưởng lương hưu, trợ cấp hằng tháng từ trước ngày 01/01/1995 sau khi thực hiện điều chỉnh theo mức chung mà có lương hưu, trợ cấp dưới 3.000.000 đồng/tháng (điều chỉnh tăng từ 2.500.000 đồng/tháng lên thành 3.000.000 đồng/tháng).

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cho biết, từ thực tiễn thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội đối với đối tượng hưởng lương hưu, trợ cấp hằng tháng từ trước ngày 01/01/1995 cho thấy, mức lương hưu, trợ cấp hằng tháng đã được xác định dựa trên thời gian công tác thực tế và  mức tiền lương tháng trước khi nghỉ việc của người lao động, tuy nhiên với đặc thù của chính sách tiền lương giai đoạn trước năm 1995, cùng với các quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội tại thời điểm đó nên phần lớn người lao động nghỉ hưu, nghỉ việc theo chế độ mất sức lao động với thời gian làm việc ngắn và mức tiền lương trước khi nghỉ việc thấp, từ đó ảnh hưởng đến mặt bằng chung về mức hưởng lương hưu, trợ cấp hằng tháng của nhóm đối tượng này. Bên cạnh đó, một số nhóm đối tượng đã dừng hưởng theo quy định sau đó được nhà nước ban hành chính sách cho tiếp tục hưởng trợ cấp hằng tháng từ nguồn ngân sách nhà nước nên mức hưởng khá thấp so với mặt bằng chung (mức trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng của người đang hưởng trợ cấp theo Quyết định số 91/2000/QĐ-TTg và Quyết định số 613/QĐ-TTg là khoảng 1.443.633 đồng/người/tháng).

Thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội "quan tâm điều chỉnh thỏa đáng đối với nhóm đối tượng có mức lương hưu thấp và nghỉ hưu trước năm 1995 nhằm thu hẹp khoảng cách chênh lệch lương hưu giữa người nghỉ hưu ở các thời kỳ" và Nghị quyết số 69/2022/QH15 ngày 11/11/2022 của Quốc hội "hỗ trợ thêm đối với người nghỉ hưu trước năm 1995 có mức hưởng thấp", Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đề xuất điều chỉnh đối tượng điều chỉnh đối với người nghỉ hưu từ trước ngày 01/01/1995 sau khi thực hiện điều chỉnh theo quy định chung mà có mức hưởng dưới 3 triệu đồng/người/tháng. Việc xác định mốc 3.000.000 đồng/người/tháng để làm căn cứ điều chỉnh được tính toán dựa trên mức 2.500.000 đồng/người/tháng quy định tại Nghị định số 108/2021/NĐ-CP và thực hiện việc điều chỉnh tăng 20,8% theo mức tăng của mức lương cơ sở và các chính sách an sinh xã hội đang gắn với lương cơ sở theo Nghị quyết số 69/2022/QH15.

Về việc bổ sung đối tượng là người đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng và trợ cấp tuất hằng tháng trước ngày 01/01/1995, đây là nhóm đối tượng không được điều chỉnh theo quy định tại Nghị định số 108/2021/NĐ-CP, đồng thời để đảm bảo tương quan với người đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng và trợ cấp tuất hằng tháng từ ngày 01/01/1995 trở đi do theo quy định của pháp luật bảo hiểm xã hội thì mức hưởng của các đối tượng này được xác định dựa trên mức lương cơ sở tại thời điểm hưởng và được điều chỉnh khi Chính phủ thực hiện điều chỉnh mức lương cơ sở.

8 nhóm đối tượng

Như vậy, tại dự thảo, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đề xuất điều chỉnh mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng đối với các đối tượng hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng trước ngày 01/7/2023, bao gồm:

1- Cán bộ, công chức, công nhân, viên chức và người lao động (kể cả người có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, người nghỉ hưu từ quỹ bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An chuyển sang theo Quyết định số 41/2009/QĐ-TTg ngày 16/3/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An sang bảo hiểm xã hội tự nguyện); quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu đang hưởng lương hưu hằng tháng.

2- Cán bộ xã, phường, thị trấn quy định tại Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, Nghị định số 34/2019/NĐ-CP ngày 24/4/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố, Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21/10/2003 của Chính phủ về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và Nghị định số 09/1998/NĐ-CP ngày 23/01/1998 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 50/CP ngày 26/7/1995 của Chính phủ về chế độ sinh hoạt phí đối với cán bộ xã, phường, thị trấn đang hưởng lương hưu, trợ cấp hằng tháng.

3- Người đang hưởng trợ cấp mất sức lao động hằng tháng theo quy định của pháp luật; người đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 91/2000/QĐ-TTg ngày 04/8/2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc trợ cấp cho những người đã hết tuổi lao động tại thời điểm ngừng hưởng trợ cấp mất sức lao động hằng tháng, Quyết định số 613/QĐ-TTg ngày 06/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc trợ cấp hằng tháng cho những người có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm công tác thực tế đã hết thời hạn hưởng trợ cấp mất sức lao động; công nhân cao su đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 206-CP ngày 30/5/1979 của Hội đồng Chính phủ về chính sách đối với công nhân mới giải phóng làm nghề nặng nhọc, có hại sức khỏe nay già yếu phải thôi việc.

4- Cán bộ xã, phường, thị trấn đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 130-CP ngày 20/6/1975 của Hội đồng Chính phủ bổ sung chính sách, chế độ đãi ngộ đối với cán bộ xã và Quyết định số 111-HĐBT ngày 13/10/1981 của Hội đồng Bộ trưởng về việc sửa đổi, bổ sung một số chính sách, chế độ đối với cán bộ xã, phường.

5- Quân nhân đang hưởng chế độ trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg ngày 27/10/2008 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện chế độ đối với quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước có dưới 20 năm công tác trong quân đội đã phục viên, xuất ngũ về địa phương (được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 38/2010/QĐ-TTg ngày 06/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ).

6- Công an nhân dân đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 53/2010/QĐ-TTg ngày 20/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ quy định về chế độ đối với cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân tham gia kháng chiến chống Mỹ có dưới 20 năm công tác trong Công an nhân dân đã thôi việc, xuất ngũ về địa phương. 

7- Quân nhân, công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, công an nhân dân đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg ngày 09/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ, chính sách đối với đối tượng tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế ở Căm-pu-chi-a, giúp bạn Lào sau ngày 30/4/1975 đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc.

8- Người đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng, trợ cấp tuất hằng tháng trước ngày 01/01/1995.

Mời bạn đọc xem toàn văn dự thảo và góp ý tại đây.

  • Nhà báo trước áp lực AI và mạng xã hội

    Sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI) và mạng xã hội đang tạo ra những thay đổi mạnh mẽ đối với hoạt động báo chí truyền thông. Trong cuộc đua thông tin thời gian thực, người làm báo không chỉ chịu áp lực về tốc độ và tương tác, mà còn đối mặt với thách thức bảo đảm tính xác thực, đạo đức nghề nghiệp và giá trị cốt lõi của báo chí chính thống. Trong bối cảnh đó, việc nhà báo thích ứng ra sao để không bị tụt lại phía sau nhưng vẫn giữ được vai trò dẫn dắt thông tin đang trở thành vấn đề được đặc biệt quan tâm. Tạp chí Môi trường Giao thông đã có cuộc trao đổi với Thạc sĩ, Nhà báo Đinh Ngọc Sơn – Nguyên Phó Trưởng khoa Phát thanh – Truyền hình, Học viện Báo chí và Tuyên truyền về vấn đề này.
  • Chính phủ quy định điều kiện kinh doanh cảng hàng không

    Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 205/2026/NĐ-CP quy định chi tiết về điều kiện kinh doanh cảng hàng không và dịch vụ hàng không. Những quy định mới về vốn, nhân sự và quy trình cấp phép sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.
  • Bộ Công Thương lên tiếng vụ xe hỏng do dùng xăng E10: Ai sẽ bồi thường?

    Trước thềm áp dụng khai tử hoặc đồng loạt triển khai xăng sinh học E10 trên toàn quốc từ ngày 1/6/2026, Bộ Công Thương vừa chính thức công bố bộ tài liệu giải đáp 85 câu hỏi được dư luận quan tâm nhất. Trong đó, vấn đề quy trách nhiệm và bồi thường thiệt hại nếu loại nhiên liệu mới này gây hư hỏng cho phương tiện đã có câu trả lời rõ ràng từ cơ quan quản lý.
  • Cấm dùng điện thoại ở cây xăng nhưng vẫn chấp nhận thanh toán chuyển khoản

    Chúng ta đã cấm sử dụng điện thoại di động tại cây xăng để phòng ngừa cháy nổ, vậy tại sao hàng loạt cây xăng lại dán mã QR ngay sát trụ bơm, khuyến khích khách hàng “bấm nhoay nhoáy” chuyển khoản, quét mã thanh toán ngay giữa khu vực ngập tràn hơi xăng dễ bay hơi? Đây không còn là vấn đề “tiện lợi công nghệ” nữa, mà là một lỗ hổng an toàn nghiêm trọng đang được dung dưỡng dưới lớp vỏ hiện đại.
  • Bộ trưởng Trần Hồng Minh thông tin về triển khai loạt dự án đường sắt, cảng hàng không

    Cuối buổi chiều 20/4, tại phiên thảo luận ở hội trường về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước, Bộ trưởng Bộ Xây dựng cho biết đến năm 2050 sẽ phát triển lên trên 30 cảng hàng không. Đối với lĩnh vực đường sắt, theo quy hoạch mạng lưới được phê duyệt, sẽ có 25 tuyến với tổng chiều dài 6.658km.