Thứ Tư, ngày 23/09/2026 12:02 | HOTLINE : 0906.18.1357 | Email: bbt.giaothong360@gmail.com
Liên hệ quảng cáo: 0906.18.1357
Thị trường

Bộ Công thương tìm giải pháp giảm chi phí logistics để thúc đẩy xuất khẩu

Minh Phương - 11:04 23/09/2026 GMT+7

Hội nghị Trao đổi giải pháp giảm chi phí logistics nhằm thúc đẩy xuất khẩu là diễn đàn quan trọng giúp các cơ quan quản lý lắng nghe trực tiếp vướng mắc từ doanh nghiệp, đồng thời thống nhất giải pháp liên ngành để giảm chi phí và nâng cao sức cạnh tranh cho hàng hóa Việt Nam.

Sáng ngày 22/9 tại Hà Nội, Bộ Công Thương tổ chức Hội nghị Trao đổi giải pháp giảm chi phí logistics nhằm thúc đẩy xuất khẩu. Tại hội nghị, ông Bùi Bá Nghiêm, Chuyên viên cao cấp Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam năm 2025 đạt 930,1 tỷ USD (tăng 18,2% so với năm 2024), mang lại mức thặng dư thương mại 20,05 tỷ USD.

Trong 8 tháng đầu năm 2026, quy mô xuất nhập khẩu tiếp tục ghi nhận 770,14 tỷ USD (tăng 28,7%); trong đó xuất khẩu đạt 374,84 tỷ USD (tăng 22,4%) và nhập khẩu đạt 395,30 tỷ USD (tăng 35,3%), dẫn đến mức nhập siêu khoảng 20,46 tỷ USD.

Bộ Công thương tổ chức Hội nghị Trao đổi giải pháp giảm chi phí logistics nhằm thúc đẩy xuất khẩu. Ảnh: Bộ Công thương

Dù quy mô thương mại tăng nhanh, gánh nặng logistics vẫn ảnh hưởng trực tiếp đến sức cạnh tranh của hàng hóa. Theo Báo cáo Logistics Việt Nam 2025, chi phí logistics ở tầm nền kinh tế ước tính tương đương 16-17% GDP. Tổng chi phí một lô hàng hiện không chỉ có cước vận tải mà bao gồm cả phí cảng, kho bãi, dịch vụ, chi phí thủ tục, tuân thủ, tồn kho, vốn và các khoản phát sinh do chậm trễ, hư hỏng hoặc xử lý lại.

Về góc độ đo lường, ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) chỉ rõ sự khác biệt trong các phương pháp tiếp cận hiện nay. Điển hình ở ngành dệt may, chi phí logistics có thể chiếm khoảng 10% giá hàng xuất khẩu, nhưng một số nghiên cứu khác lại tính toán ở mức 16-18%. Do đó, việc hoàn thiện chính sách cần dựa trên thông tin thực tiễn và xây dựng chuẩn đo lường thống nhất.

Tại hội nghị, đại diện các hiệp hội ngành hàng và chuyên gia đã phân tích cụ thể những vướng mắc phát sinh từ thực tế sản xuất, lưu thông. Với ngành dệt may, ông Trương Văn Cẩm – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam cho biết, năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu dệt may đạt 71,6 tỷ USD (xuất khẩu 46,2 tỷ USD, nhập khẩu 25,5 tỷ USD).

Đối với dệt may, chi phí logistics trong nước từ nhà máy đến cảng đang chiếm khoảng 9-10%, trong khi biên lợi nhuận của ngành chỉ dao động từ 3-5%. Do đó, tiết giảm chi phí logistics đóng vai trò sống còn đối với hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Đại diện ngành dệt may đề xuất cần cải thiện hoạt động cảng biển, thủ tục hải quan và mở rộng danh sách doanh nghiệp ưu tiên hải quan cho các đơn vị quy mô lớn, tuân thủ tốt; đồng thời tăng cường kết nối đường sắt, đường sông và đường biển để giảm tải cho đường bộ.

Với ngành nông, thủy sản, đại diện Hiệp hội Lương thực Việt Nam cho biết, trong 8 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu gạo đạt khoảng 6 triệu tấn (trị giá 3 tỷ USD). Tuy nhiên, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long – nơi tập trung phần lớn sản lượng và nhà máy gạo vẫn thiếu cảng chuyên dụng nước sâu cho tàu lớn, buộc doanh nghiệp phải vận chuyển hàng lên TP.HCM, làm phát sinh chi phí trung chuyển.

Trong 8 tháng đầu năm 2026, quy mô xuất nhập khẩu tiếp tục ghi nhận 770,14 tỷ USD (tăng 28,7%). Ảnh minh họa

Trong khi đó, đại diện Hiệp hội Dừa Việt Nam nhận định, việc thiếu dịch vụ hun trùng và chiếu xạ tại miền Bắc khiến một số doanh nghiệp phải vận chuyển hàng vào miền Nam để xử lý rồi lưu kho, gây tăng chi phí và rút ngắn thời gian bảo quản sản phẩm.

Với thủy sản, đại diện Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) cho rằng chi phí logistics còn bao gồm kho lạnh, kho bãi, container và các chi phí phát sinh liên quan đến tàu, giấy tờ. Hiệp hội đề nghị xây dựng cơ sở xác định chi phí vận chuyển container, có dự báo để doanh nghiệp chủ động tính toán khi ký hợp đồng với đối tác; đồng thời đẩy nhanh số hóa, liên thông thủ tục giấy tờ.

Ở góc độ doanh nghiệp logistics, ông Nguyễn Duy Minh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam, cho rằng cần nhìn chi phí logistics từ nhiều mắt xích, trước hết là thời gian thông quan. Khi hàng hóa được xử lý và thông quan nhanh, doanh nghiệp sẽ chủ động hơn trong tổ chức vận tải và giảm chi phí.

Hiệp hội cũng đề xuất lựa chọn một số hành lang vận tải và ngành hàng để thí điểm, xác định rõ vấn đề, cơ quan liên quan và loại chi phí phát sinh, từ đó có giải pháp cụ thể theo từng dòng hàng.

Để khắc phục các điểm nghẽn, các cơ quan quản lý đã đưa ra định hướng xử lý liên ngành. Đại diện Cục Hải quan (Bộ Tài chính) cho biết, ngành đang tập trung đơn giản hóa thủ tục hành chính, số hóa và triển khai đề án Hải quan số. Tuy nhiên, kết quả đo thời gian giải phóng hàng hóa cho thấy khoảng 70% thời gian thông quan nằm ở các thủ tục ngoài hải quan (xin giấy phép, vận chuyển, kiểm tra chuyên ngành, thử nghiệm).

Cục Xuất nhập khẩu đề xuất các Bộ quản lý chuyên ngành rà soát, loại bỏ chứng từ trùng lặp, áp dụng nghiêm nguyên tắc "cung cấp dữ liệu một lần", xử lý trước khi hàng đến và tăng cường quản lý rủi ro, chuyển sang hậu kiểm.

Đại diện Bộ Xây dựng cho biết, Bộ đã rà soát cắt giảm điều kiện kinh doanh vận tải, tập trung thực hiện thủ tục tàu chở hàng qua hệ thống điện tử, đồng thời miễn, giảm thủ tục cho phương tiện thủy nội địa nhằm nâng cao năng lực vận tải đường thủy.

Trong khi đó, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) đề xuất xây dựng hệ thống đo lường chi phí logistics quốc gia để theo dõi chỉ tiêu chi phí theo ngành hàng, hành lang, chi phí trên tấn/container, thời gian chờ, tỷ lệ giao đúng hạn và chứng từ điện tử. Song song đó là phát triển nền tảng điều phối logistics dùng chung giúp kết nối dữ liệu, cảnh báo ùn tắc và xử lý vướng mắc liên ngành.

Đánh giá về định hướng lâu dài, ông Trần Thanh Hải nhấn mạnh bên cạnh việc giảm chi phí trong nước, Bộ Công Thương đang chủ trì chương trình hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam vươn ra thị trường quốc tế.

Đối với đề xuất nghiên cứu cơ chế hỗ trợ xây dựng trung tâm logistics hoặc trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam ở nước ngoài, đại diện Bộ Công Thương cho rằng vai trò của Nhà nước là kiến tạo chính sách, tạo cơ chế, hỗ trợ tín dụng và ưu đãi phù hợp để kích hoạt nguồn lực xã hội, thay vì làm thay doanh nghiệp, nhằm đảm bảo tính hiệu quả và động lực đầu tư bền vững.

  • Giao thông đồng bộ mở lối cho du lịch Quảng Trị

    Với không gian phát triển rộng lớn sau hợp nhất, Quảng Trị đang sở hữu hệ thống tài nguyên du lịch đa dạng, từ di sản thiên nhiên, biển đảo đến các di tích lịch sử, văn hóa đặc sắc. Trong hành trình biến tiềm năng thành sức hút, hạ tầng giao thông đồng bộ đang trở thành “mạch nối” quan trọng, mở rộng khả năng tiếp cận điểm đến, rút ngắn khoảng cách và tạo nền tảng cho du lịch phát triển theo hướng bền vững.
  • Chính sách ưu đãi hỗ trợ phát triển cụm công nghiệp

    Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi vượt trội về hạ tầng, thuế và tín dụng nhằm thúc đẩy phát triển cụm công nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư sản xuất kinh doanh theo Văn bản hợp nhất số 71/2026/VBHN-NĐ-BCT.
  • HoREA đề xuất áp dụng niên hạn sử dụng với chung cư xây mới

    Hiệp hội Bất động sản TP.HCM (HoREA) vừa gửi văn bản tới Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề xuất quy định thời hạn sử dụng nhà chung cư theo niên hạn công trình. Đề xuất này không chỉ nhằm giải quyết các bất cập trong cải tạo chung cư cũ mà còn được kỳ vọng sẽ tác động tích cực đến mặt bằng giá nhà trong tương lai.
  • Thương mại điện tử - 'bệ phóng' cho làng nghề Việt bứt phá

    Trong bối cảnh kinh tế số trở thành động lực tăng trưởng mới, thương mại điện tử đang đóng vai trò là "cú hích" quan trọng giúp các làng nghề truyền thống Việt Nam thoát khỏi lũy tre làng, nâng cao giá trị sản phẩm và vươn ra thị trường toàn cầu.